Thứ Năm, 20 tháng 8, 2015

PHÁI SHIRAKABA TRONG TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC NHẬT BẢN



Nói một cách chặt chẽ thì sự tồn tại của phái Shirakaba chỉ là khoảng thời gian mà các nhà văn trong nhóm này thực hiện tạp chí văn nghệ Shirakaba, nghĩa là từ năm 1910 đến năm 1923. Mười ba năm không hẳn là một khoảng thời gian dài đối với một sự nghiệp văn chương cũng như sự tồn tại của một tạp chí văn nghệ. Nhưng với 160 số tạp chí được phát hành trong khoảng thời gian ấy cùng với nhiều hoạt động khác trong lĩnh vực văn chương, mỹ thuật và cả trong đời sống xã hội, các nhà văn nhóm Shirakaba đã thực sự có đóng góp lớn cho tiến trình hiện đại hóa văn học và cho việc phát triển ngành mỹ thuật hiện đại ở Nhật Bản đầu thế kỷ XX.
Sự xuất hiện và tồn tại của tạp chí Shirakaba thời Taisho không chỉ là một thành công về hoạt động văn nghệ của các nhà văn – nghệ sĩ nhóm Shirakaba mà còn là một thành tựu quan trọng của tiến trình hiện đại hóa văn học – nghệ thuật Nhật Bản sau cải cách Minh Trị. Tạp chí Shirakaba trước hết đã thực hiện tốt vai trò cơ quan ngôn luận của bút nhóm, là cửa sổ để các nhà văn – nghệ sĩ trong nhóm giao lưu với các nghệ sĩ, trường phái văn học nghệ thuật khác cùng hoạt động trong đời sống văn nghệ thời Taisho và qua đó khẳng định quan điểm nghệ thuật riêng của Shirakaba.
Ở đây cần nói thêm rằng báo chí nói chung và các tạp chí văn nghệ nói riêng là một phần quan trọng của đời sống văn nghệ Nhật Bản thời hiện đại. Đã có nhiều tạp chí văn nghệ được sáng lập trong tiến trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản, chủ yếu là giai đoạn từ cải cách Minh Trị đến trước chiến tranh Thế giới thứ hai. Tạp chí Hototogisu do nhà thơ Masaoka Shiki sáng lập, là diễn đàn chủ yếu của trường phái thơ haiku cách tân. Subaru được thực hiện bởi sự cộng tác của Mori Ogai và vợ chồng nhà thơ Yosano Tekkan – Akiko, đăng nhiều thơ tự do và sáng tác của các nhà văn theo trường phái lãng mạn. Tạp chí Zamboa do nhà thơ Kitahara Hakushu chủ biên, về sau cũng trở thành diễn đàn của các nhà văn, nhà thơ thuộc trường phái lãng mạn. Tạp chí Shinshicho do nhà biên kịch Osanai Kaoru sáng lập, về sau được điều hành bởi một nhóm cựu sinh viên trường Đại học Tokyo. Ngoài ra còn có nhiều báo hoặc tạp chí thông thường, có nội dung tổng hợp nhưng cũng được biết đến như là nơi giới thiệu nhiều tài năng văn học, nhiều sáng tác văn chương giá trị như Chuo koron, Asahi v.v...
Trong tiến trình hiện đại hóa văn học, những tạp chí kể trên đều được sử dụng như một diễn đàn rộng rãi để các nhà văn, nghệ sĩ công bố sáng tác mới, bày tỏ ý kiến phê bình về những sáng tác của các cây bút đương thời, giới thiệu những thành tựu kinh điển của văn học thế giới hoặc tác phẩm mới của văn học phương Tây và cung cấp cho độc giả những thông tin bổ ích về hoạt động văn hóa – văn nghệ trong và ngoài nước. Nhờ có hoạt động của các tạp chí văn nghệ mà các trường phái văn nghệ, các nhà văn – nghệ sĩ biết đến sáng tác của nhau, trao đổi ý kiến về sáng tác nghệ thuật và về tác phẩm của nhau, phê bình, học hỏi và kế thừa nhau để cùng xây dựng nền văn học Nhật Bản hiện đại.
So với các tạp chí đương thời thì Shirakaba cũng thực hiện đầy đủ các vai trò của một tạp chí văn nghệ điển hình. Các nhà văn – nghệ sĩ nhóm Shirakaba đã thông qua tạp chí để giới thiệu rộng rãi những sáng tác mới có khả năng gây chú ý trên văn đàn, những bài lý luận phê bình có giá trị và nhiều thông tin về các nghệ sĩ lớn trên thế giới, về hoạt động văn hóa – văn nghệ ở các nước phương Tây. Đặc biệt, tạp chí này được sáng lập và thực hiện bởi một nhóm nhà văn – nghệ sĩ đồng trang lứa, quen biết nhau từ lúc còn là học sinh trường Gakushuin, trong khi những tạp chí đương thời thường do một nhà văn hay nhà thơ có tài năng và uy tín đứng ra sáng lập. Được điều hành bởi một nhóm người trẻ tuổi bằng nguồn tài chính do các thành viên tự đóng góp và được duy trì liên tục suốt 13 năm, tạp chí Shirakaba là minh chứng rõ ràng cho tinh thần yêu văn nghệ và ý chí dấn thân vì hoạt động văn nghệ của các nhà văn trong nhóm, đồng thời cũng là một thành công hiếm thấy của việc hợp tác cùng bằng hữu trong lĩnh vực làm báo, viết văn.
Nhưng điều quan trọng là tạp chí Shirakaba đã thể hiện một sự dung hợp hài hòa hai lĩnh vực văn chương và mỹ thuật trong hoạt động văn nghệ của phái Shirakaba. Được biết đến như một tạp chí văn nghệ nhưng nét đặc trưng của Shirakaba so với các tạp chí văn học đương thời là khuynh hướng nhấn mạnh yếu tố mỹ thuật, như nhận xét của nhà nghiên cứu Nishimura Shuko:
Shirakaba là một tạp chí văn nghệ được thực hiện theo chủ trương của Mushanokoji Saneatsu nhưng đồng thời cũng thể hiện rõ ràng đặc điểm của một tạp chí mỹ thuật. Những thành viên của nhóm Shirakaba có mong muốn tiếp nhận mỹ thuật phương Tây, đã viết phê bình mỹ thuật đăng trên tạp chí, tổ chức nhiều đợt triển lãm mỹ thuật do nhóm Shirakaba chủ trì và để lại ảnh hưởng lâu dài trong lĩnh vực mỹ thuật Nhật Bản (...) Mỗi số của tạp chí đều có đăng bài viết về hội họa và triển lãm, Shirakaba mở đầu cho việc giới thiệu mỹ thuật phương Tây đã thể hiện đầy đủ vai trò của một tạp chí mỹ thuật[1].
Tuy rằng trong số những thành viên chủ chốt của nhóm Shirakaba chỉ có Arishima Ikuma là họa sĩ chuyên nghiệp được đào tạo bài bản ở Tây Âu, Shirakaba đã thực hiện tốt vai trò tiên phong trong hoạt động giới thiệu và phát triển nền mỹ thuật hiện đại Nhật Bản bằng cách chọn lọc những tác phẩm hội họa của những nghệ sĩ lớn hoặc những trường phái nổi tiếng, được giới mỹ thuật phương Tây đánh giá cao để giới thiệu trên từng số tạp chí Shirakaba và trong các cuộc triển lãm mỹ thuật do nhóm Shirakaba tổ chức, đăng tải nhiều bài phê bình mỹ thuật có giá trị của các họa sĩ, nhà nghiên cứu mỹ thuật trong và ngoài nhóm và thông qua hoạt động của tạp chí Shirakaba để kết nối sinh hoạt mỹ thuật của các họa sĩ Nhật Bản với nghệ sĩ phương Tây.
Với những động thái tích cực như trên, tạp chí Shirakaba đã trở thành diễn đàn mỹ thuật của các họa sĩ Nhật Bản thuộc thế hệ đầu tiên được đào tạo ở phương Tây trong ngành mỹ thuật hiện đại, tạo nên không khí sinh hoạt mỹ thuật sôi động trong nước và cũng làm cho các nước có nền mỹ thuật rực rỡ, lâu đời ở phương Tây biết đến những hoạt động bước đầu của mỹ thuật hiện đại Nhật Bản. Sự cộng tác của nhà nghiên cứu mỹ thuật Bernard Leach trong các hoạt động mỹ thuật của nhóm Shirakaba vừa là một bằng chứng quan trọng cho thành tựu và uy tín của nhóm này trong ngành mỹ thuật đương thời, vừa là một sự kết nối có ý nghĩa giữa mỹ thuật Nhật Bản với mỹ thuật phương Tây, giữa sự phát triển của mỹ thuật hiện đại và việc bảo tồn các nghệ thuật chế tác truyền thống.
Cá nhân Arishima Ikuma còn dịch những công trình quan trọng về mỹ thuật phương Tây để góp phần phổ biến tri thức về mỹ thuật hiện đại trong nước và tích cực tham gia nhiều hoạt động có quy mô lớn của giới mỹ thuật Nhật Bản đương thời như tham gia các triển lãm mỹ thuật có tầm cỡ quốc gia, tham gia vận động thành lập và điều hành những tổ chức quy mô lớn trong ngành mỹ thuật.
Trong khi đó, một thành viên khác của nhóm Shirakaba là Yanagi Muneyoshi lại có đam mê riêng về hoạt động bảo tồn các ngành mỹ nghệ dân gian truyền thống và đã có nhiều đóng góp quan trọng cho lĩnh vực này, từ những sưu tầm, nghiên cứu cá nhân về sản phẩm mỹ thuật ở Triều Tiên và các vùng trong nước Nhật đến những hoạt động quy mô lớn như vận động thành lập bảo tàng, thành lập Hiệp hội nghệ thuật dân gian Nhật Bản và thực hiện tạp chí Mingei để giới thiệu thường xuyên những sản phẩm mỹ nghệ, phổ biến thông tin về tình hình bảo tồn và phát triển các ngành nghệ thuật dân gian.
Những hoạt động của nhóm Shirakaba trong lĩnh vực mỹ thuật thể hiện rõ tinh thần của người Nhật Bản trong cách thức tiếp thu văn hóa ngoại lai kết hợp với bảo tồn văn hóa truyền thống. Điều này đặc biệt có ý nghĩa trong tiến trình hiện đại hóa đất nước sau Minh Trị duy tân. Nhờ sự đóng góp của nhiều nghệ sĩ, nhà nghiên cứu mà Arishima Ikuma, Kinoshita Mokutaro, Yamawaki Shintoku là những người tiên phong, với tinh thần tích cực vì sự phát triển của mỹ thuật hiện đại là một lĩnh vực hoàn toàn mới đối với văn hóa Nhật Bản, bằng những hoạt động chuyên nghiệp, có quy mô và tầm ảnh hưởng rộng lớn mà hội họa và điêu khắc phương Tây đã nhanh chóng hòa nhập vào đời sống văn hóa – nghệ thuật chung của cả nước. Trong khi đó, các ngành mỹ nghệ truyền thống như đồ gốm, sơn mài, dán vàng, nhuộm vải ở nhiều địa phương vẫn được bảo tồn và tiếp tục phát triển. Đến giữa thế kỷ XX thì mỹ thuật Nhật Bản trở thành một lĩnh vực nghệ thuật có quy mô lớn, bao gồm cả những ngành mỹ nghệ truyền thống và mỹ thuật hiện đại theo phong cách phương Tây. Phái Shirakaba với những đóng góp tích cực trong hoạt động văn hóa – văn nghệ thời Taisho đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử phát triển của ngành mỹ thuật Nhật Bản hiện đại.
Ấn tượng mà các nhà văn – nghệ sĩ của nhóm Shirakaba để lại trên văn đàn nói riêng và trong đời sống văn hóa – xã hội Nhật Bản nói chung còn được tạo nên từ những hoạt động xã hội của các nhà văn trong nhóm. Công trình “làng mới” thể hiện ước vọng của Mushanokoji Saneatsu về một xã hội ôn hòa, không tranh chấp và là điều kiện lý tưởng để mỗi cá nhân đều có thể phát huy những tiềm lực tốt đẹp của bản thân, xây dựng một cuộc sống no ấm, đầy đủ về vật chất và phong phú về tinh thần. Ý tưởng này đã thu hút nhiều người tham gia xây dựng “làng mới” tại Miyazaki và Saitama, và sự tồn tại của “làng mới” ở Saitama đến ngày nay cho thấy tư tưởng nhân đạo và chủ nghĩa lý tưởng của Mushanokoji có sức ảnh hưởng nhất định đến người dân bình thường trong xã hội.
Tuy rằng “làng mới” không thực hiện được những chủ trương ban đầu của Mushanokoji, cũng như “nông trường tập thể” ở Sapporo không ổn định và phát triển như mong muốn của Arishima Takeo nhưng qua những hoạt động thực tế, các nhà văn – nhà tư tưởng của nhóm Shirakaba đã thể hiện thái độ tích cực, tinh thần dấn thân của lớp trí thức và văn nghệ sĩ tiền phong trong công cuộc hiện đại hóa đất nước. “Làng mới” ngày nay vẫn dành vị trí trang trọng nhất cho công viên tưởng niệm Mushanokoji Saneatsu. Những thành tựu văn học và mỹ thuật của Mushanokoji cùng với những vật lưu niệm và hình ảnh về nhà văn được trang trọng giới thiệu trong bảo tàng mỹ thuật mang tên ông, do cộng đồng cư dân trong làng thành lập và quản lý.
Tương tự, Arishima Takeo dù đã tự kết thúc cuộc đời và văn nghiệp của mình quá sớm nhưng đến nay vẫn là nhà văn chiếm vị trí số một trong đời sống văn học ở vùng Hokkaido. Những nơi chốn còn lưu lại dấu tích của nhà văn trong quá trình công tác và viết lách ở Sapporo được bảo tồn nguyên vẹn để làm nơi trưng bày, giới thiệu những vật lưu niệm về cuộc đời và hoạt động văn nghệ của Arishima. Bảo tàng và bia lưu niệm nhà văn tại Sapporo cũng là một địa điểm tham quan cho du khách đến thăm thành phố.
Số lượng các thành viên nòng cốt của phái Shirakaba không nhiều nhưng quá trình hợp tác tốt đẹp và những hoạt động tích cực của họ trải rộng trên nhiều lĩnh vực văn hóa – xã hội thời Taisho gắn với sự tồn tại của tạp chí văn nghệ Shirakaba đã tạo nên ấn tượng khá sâu sắc về một trường phái tư tưởng – văn học trong đời sống văn nghệ sôi nổi đầu thế kỷ XX. Tuy thường được nói đến như một trường phái văn nghệ đối lập với trường phái tự nhiên về quan niệm sáng tác nhưng thái độ và nội dung hoạt động văn nghệ của phái Shirakaba cho thấy các nhà văn trong nhóm này thiên về khẳng định hơn là phủ định, hướng đến việc giới thiệu và xây dựng những giá trị mới hơn là phê phán hay phủ nhận những hạn chế của quá khứ và hiện tại. Cho nên, dù có những thất bại hay hạn chế không tránh khỏi, phái Shirakaba vẫn lưu lại trên văn đàn Taisho một hình ảnh đẹp của một lớp văn nghệ sĩ hết lòng vì nghệ thuật, nhiệt tình vì hoạt động giao lưu văn hóa – văn nghệ trong nước và quốc tế, dấn thân vì một nền nghệ thuật Nhật Bản phong phú hơn và cũng vì một xã hội hiện đại tốt đẹp hơn.
Tuy nhiên, những hoạt động mà các thành viên của phái Shirakaba cùng hợp tác để thực hiện chủ yếu chỉ diễn ra trong khoảng thời gian 13 năm mà tạp chí Shirakaba tồn tại. Và ngay cả trong thời gian duy trì tạp chí thì hoạt động quan trọng nhất của các thành viên trong nhóm vẫn là sáng tác văn chương. Không chỉ góp phần tạo ra ấn tượng chung về một trường phái văn học có khuynh hướng tư tưởng và quan niệm sáng tác tương đối thống nhất, mỗi thành viên của nhóm Shirakaba đều có một sự nghiệp văn chương phong phú, có phong cách sáng tác riêng và khẳng định được vị trí cá nhân trên văn đàn đương thời cũng như trong lịch sử văn học hiện đại.
Mushanokoji Saneatsu có văn phong gẫy gọn, giọng văn nhẹ nhàng nhưng tư tưởng sắc nét, thậm chí phá cách và lập dị. Shiga Naoya thì theo đuổi lối viết hiện thực, sở trường ở hình thức tự truyện và được tôn xưng là “ông thần của thể loại truyện ngắn”. Arishima Takeo là nhà văn có nhiều giọng điệu. Thế giới trong tác phẩm của ông có khi cực kỳ trong trẻo và tươi sáng, có khi lại vô cùng dữ dội và nghiệt ngã. Arishima cũng là nhà văn trong nhóm chịu ảnh rõ rệt nhất tư tưởng – văn học phương Tây. Satomi Ton và Nagayo Yoshiro tuy cũng trải quan thời gian viết cho tạp chí Shirakaba nhưng chủ yếu phát triển cá tính và sự nghiệp văn chương sau khi Shirakaba đình bản, nên lại càng tỏ ra độc lập về tư tưởng và lối viết. Satomi Ton thường viết về kinh nghiệm cá nhân với giọng điệu tỉnh táo, lạnh lùng còn Nagayo Yoshiro thì chuyển từ giọng văn mềm yếu, tình cảm sang lối viết nặng về triết luận.
Tuy mỗi nhà văn đều có phong cách riêng nhưng điểm gặp gỡ giữa họ trong đời sống và trong quan niệm về nghệ thuật đã tạo ra những nét đặc thù, dễ nhận thấy trong thế giới văn chương Shirakaba, và những từ đường nét như vậy đã hình thành diện mạo văn học của trường phái Shirakaba trong đời sống văn nghệ đương thời. Với quan niệm mới về con người cá nhân, về chủ nghĩa nhân đạo kết hợp với việc tiếp thu ảnh hưởng từ văn học, tư tưởng phương Tây, các nhà văn của phái Shirakaba đã tạo được phong cách riêng với những tác phẩm có giá trị, góp phần phát triển văn học hiện đại Nhật Bản theo hướng tinh tế hơn và cũng rộng mở hơn.
Nói đến phái Shirakaba, nhiều nhà phê bình thường nhắc đến lối viết mới mẻ và bầu không khí đậm chất phương Tây trong sáng tác, từ thơ tự do đến truyện ngắn, tiểu thuyết và kịch bản sân khấu – điện ảnh.
Ảnh hưởng của tư tưởng – văn học phương Tây thể hiện rõ nét nhất trong sáng tác của Arishima Takeo – nhà văn của nhóm Shirakaba có thời gian học tập và sinh sống tương đối dài tại các nước châu Âu, cùng với em trai của ông là họa sĩ Arishima Ikuma. Dấu ấn phương Tây lưu lại trong tiểu thuyết của Arishima ở nhiều tác phẩm và nhiều khía cạnh. Có khi là hình ảnh thiên nhiên, con người và đời sống ở châu Âu hiện lên dưới ngòi bút tả thực như trong tiểu thuyết Kankan mushi. Có khi là những trang viết nặng tính triết luận xoay quanh những khái niệm của triết học và xã hội học phương Tây hiện đại như Meiro. Lại có khi là sự phản ánh tư tưởng, tính cách của con người hiện đại trong xã hội phương Tây qua cái nhìn chủ quan của tác giả như Aru onna v.v...
Những nhà văn khác trong nhóm Shirakaba, tuy không trải nghiệm cuộc sống thực tế ở xã hội phương Tây nhưng vẫn có bề dày tiếp xúc với văn hóa phương Tây qua sách vở, thể hiện trong tác phẩm sự tiếp thu tư tưởng – văn học phương Tây ở những mức độ khác nhau. Nagayo Yoshiro đưa vào tác phẩm những vấn đề lý luận xoay quanh sự tồn tại của con người và cơ chế duy trì sự sinh tồn đó. Những nhà văn khác như Shiga Naoya, Mushanokoji Saneatsu hay Satomi Ton đều viết nhiều tác phẩm mang tính tự truyện, thể hiện một cách sắc sảo hình ảnh con người cá nhân và những vấn đề xung quanh sự tồn tại của cá nhân như một thực thể tự nhiên bị điều chỉnh bởi điều kiện sống và các mối quan hệ xã hội.
Sự tiếp nhận tư tưởng – văn học phương Tây của các nhà văn Shirakaba và sự phản ánh điều đó trong sáng tác của họ vừa là một khuynh hướng phổ biến của văn học Nhật Bản trong giai đoạn khởi đầu cho tiến trình hiện đại hóa vừa tạo nên những nét riêng cho diện mạo văn học Shirakaba so với lối viết của các tác giả hay các trường phái khác.
Yếu tố phương Tây trong văn học Shirakaba cho thấy văn học Nhật Bản thời Taisho đã trải qua một bước tiến dài so với giai đoạn đầu của thời Meiji trong tiến trình hiện đại hóa theo hướng tiếp thu văn học phương Tây để cách tân thể loại và lối viết. Tiến trình này bắt đầu từ việc dịch văn học phương Tây và việc phóng tác một số tác phẩm như hình thức luyện tập bước đầu để du nhập các thể loại mới, rồi đến sự xuất hiện của các tác phẩm thuộc thể loại mới như tiểu thuyết, lý luận, phê bình. Đó là những thành tựu ban đầu của tiến trình hiện đại hóa văn học Nhật Bản, được thực hiện vào những thập niên cuối thế kỷ XX và gắn với tên tuổi các nhà văn, nhà lý luận – phê bình thuộc thế hệ đầu tiên của văn học Nhật Bản hiện đại như Tsubouchi Shojo, Futabatei Shimei, Ozaki Koyo, Yamada Bimyo v.v... Trong giai đoạn này thì yếu tố phương Tây trong văn học Nhật Bản còn ở dạng thô cứng, nặng nề như một sự cấy ghép không tránh khỏi khi muốn kiến tạo một cấu trúc mới khác hẳn với những yếu tố nội tại của văn học Nhật Bản cho đến thời Edo.
Trong thời gian chuyển tiếp từ thế kỷ XIX sang thế kỷ XX, sự nghiệp hiện đại hóa văn học Nhật Bản được tiếp nối bởi một đội ngũ những cây bút mới, trong đó nhiều cây bút sáng tác trên cả hai lĩnh vực thơ ca và văn xuôi, hoặc có đóng góp quan trọng trong cả hoạt động dịch thuật và sáng tác. Trong tác phẩm của những nhà văn, nhà thơ thuộc giai đoạn này như Mori Ogai, Natsume Soseki, Shimazaki Toson, Izumi Kyoka v.v..., ảnh hưởng từ tư tưởng – văn học phương Tây bắt đầu được biểu hiện đa dạng, tương ứng với sự hình thành nhiều lối viết, nhiều trào lưu văn học cùng hoạt động trên văn đàn nối tiếp nhau như trường phái lãng mạn, trường phái tả thực, trường phái tự nhiên, trào lưu xã hội, trào lưu phản tự nhiên và trường phái duy mỹ. Tác phẩm của Mori Ogai và Natsume Soseki có những hình ảnh cụ thể, trực tiếp về xã hội phương Tây (Maihime của Mori Ogai và Rondon to (Tháp London) của Natsume Soseki) do các nhà văn này có thời gian lưu học khá dài ở Tây Âu. Shimazaki Toson thì làm thơ theo phong cách lãng mạn và sáng tác tiểu thuyết theo lối viết của chủ nghĩa tự nhiên. Izumi Kyoka cũng là nhà văn lãng mạn thiên về những đề tài siêu thực, huyền ảo. 
Tuy nhiên, ở một mức độ nào đó, có thể thấy trong những tác phẩm của Mori Ogai hay Natsume Soseki, sự tiếp thu ảnh hưởng phương Tây vẫn gắn liền với ý thức đối kháng văn hóa – xã hội.
Maihime, Fushinchu (Đang trùng tu) của Mori Ogai miêu tả những nhân vật có phần gắn bó, bị chi phối hay chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Tây nhưng khi bị đặt vào những tình huống phức tạp thì yếu tố phương Tây không có vai trò quyết định, hoặc không phải là sự lựa chọn cuối cùng. Điều đó thể hiện rõ nhất trong tác phẩm Fushinchu, ở đoạn văn miêu tả cuộc gặp gỡ của nhân vật Watanabe – một quan chức ngoại giao Nhật Bản và Vladivostok – cô gái Nga, người yêu của Watanabe trong thời gian anh du học ở Đức – tại Tokyo. Thái độ lãnh đạm của Watanabe trước sự vồn vã của Vladivostok cho thấy nhân vật này đã thực sự “trở về” nước Nhật sau một thời gian sống trong lòng xã hội phương Tây. Thái độ ấy như một sự khẳng định về bản thân và về nước Nhật khi đối mặt với văn hóa phương Tây, cho dù nhân vật nhận thức rất rõ rằng, so với sự phát triển của phương Tây thì Nhật Bản hiện tại chỉ là một tòa nhà đang xây dở.
Còn tiểu thuyết của Natsume Soseki thì, hơn cả tác phẩm của Mori Ogai, thể hiện sự đối lập gay gắt giữa phương Đông và phương Tây, cũng như giữa hiện đại và truyền thống. Ý thức về sự đối lập này được tác giả ký thác vào dòng suy tưởng hoặc phát ngôn của nhân vật chính trong những tác phẩm như Sorekara (Từ dạo ấy), Sanshiro (Chàng Sanshiro), Michikusa (Cỏ bên đường) v.v... Thậm chí nhân vật Kenzo trong tiểu thuyết Michikusa đã tỏ ra ác cảm đối với không khí ngoại quốc sau thời gian du học ở châu Âu: “Trên người anh vẫn còn vương vất thứ mùi khó chịu của một đất nước xa xôi mà anh mới vừa bỏ lại phía sau. Anh ghét điều đó”[2], hay nhân vật Daisuke đã phê phán gay gắt xu hướng hiện đại hóa Nhật Bản theo con đường phát triển của phương Tây đã làm băng hoại những giá trị đạo đức truyền thống: “Trên một phương diện nào đó nước Nhật đang từ bỏ chiều sâu để chạy theo tầm vóc của một cường quốc. Vì là sự mở rộng khiên cưỡng nên hậu quả rất tai hại (...) Một dân tộc chịu sự áp đặt của phương Tây như vậy thì không còn đầu óc thanh thản để làm những việc nhân nghĩa nữa”[3].
So với lối viết của Natsume Soseki hay Mori Ogai thì rõ ràng hình ảnh và sự cảm nhận về phương Tây trong sáng tác của các nhà văn Shirakaba là một sự thể hiện hết sức khác biệt. Trong khi Natsume Soseki nhắc đến phương Tây như đối tượng của một sự chỉ trích, còn Mori Ogai nghĩ về sự “gặp gỡ” giữa Nhật Bản và phương Tây như một quá trình tương tác trong đối kháng thì các nhà văn Shirakaba thể hiện một thái độ tiếp thu tư tưởng – văn hóa phương Tây một cách tự nhiên, ôn hòa và tích cực, như việc tiếp thu và vận dụng tri thức bình thường ở con người. Những khái niệm “tự do cá nhân”, “bình đẳng”, “sức mạnh” tuy có được các nhà văn Shirakaba đưa vào tác phẩm, nhưng không phải đưa vào để bình luận hay phê phán về tư tưởng phương Tây mà được ký thác vào tư tưởng của nhân vật để biểu hiện thái độ, cách suy nghĩ của nhân vật về con người và thế giới. Khung cảnh thiên nhiên và xã hội phương Tây trong tác phẩm của Arishima Takeo cũng được miêu tả dưới cái nhìn khách quan, không cố ý nhấn mạnh sự khác biệt khó chấp nhận hay phê phán những điểm khác biệt giữa phương Tây và Nhật Bản.
Hình ảnh về phương Tây trong văn học Shirakaba và thái độ của các nhà văn Shirakaba đối với văn hóa phương Tây thể hiện qua sáng tác văn chương cho thấy phái Shirakaba có xu hướng nhìn nhận văn hóa – tư tưởng phương Tây cũng như tiến trình hiện đại hóa văn hóa – văn học Nhật Bản theo đường lối phát triển của phương Tây một cách tích cực và ôn hòa. Những nhà văn Shirakaba không sao chép văn học phương Tây một cách sống sượng nhưng cũng không thể hiện sự xung đột giữa văn hóa phương Tây và văn hóa Nhật Bản, không phê phán gay gắt hay đánh giá theo hướng tiêu cực về hiện đại hóa. Điều đó vừa thể hiện thái độ chừng mực và xu hướng tích cực của các nhà văn Shirakaba khi cùng góp tiếng nói vào thế giới văn nghệ đa thanh ở Nhật Bản trong những thập niên đầu thế kỷ XX, vừa cho thấy việc tiếp nhận tư tưởng – văn học phương Tây vào Nhật Bản từ thời Meiji (1868 – 1912) sang thời Taisho (1912 – 1926) đã có sự thay đổi quan trọng về chất, khi tư tưởng – văn học phương Tây không còn là yếu tố hoàn toàn khác biệt và xa lạ để các nhà văn phải tiếp cận bằng con đường dịch thuật và học hỏi bằng cách mô phỏng. Với tư tưởng và kỹ thuật viết được thể hiện trong văn chương Shirakaba, có thể thấy kể từ thời Taisho trở đi Nhật Bản đã có được một trí thức – nhà văn hiện đại có nền tảng học vấn sâu rộng, cập nhật để có thể tư duy và sáng tác trên tầm nhận thức tương đương và theo cách nhìn, cách nghĩ của văn nghệ sĩ phương Tây đương thời.
Thêm vào đó, các nhà văn Shirakaba còn thể hiện khuynh hướng tán thành và tiếp thu tích cực tư tưởng phương Tây về con người cá nhân. Biểu hiện nổi bật nhất của khuynh hướng này là lối viết tự truyện, trong đó các nhà văn kể lại không giấu giếm những trải nghiệm cá nhân của chính mình. Tự truyện là một hình thức phù hợp để các nhà văn Shirakaba thể hiện miêu tả bằng bút pháp hiện thực hình ảnh con người cá nhân, đồng thời qua đó ký thác lý tưởng theo quan niệm của bản thân về con người lý tưởng trong xã hội hiện đại.
So với tự truyện của các nhà văn thuộc những trào lưu, trường phái khác cùng sinh hoạt văn nghệ trên văn đàn Taisho thì tự truyện của phái Shirakaba thiên về miêu tả đời sống nội tâm, diện mạo tâm lý của nhân vật. Đặc tả con người ở bình diện tâm lý, tính cách cũng là một đặc điểm quan trọng của văn học Shirakaba. Đó cũng là biểu hiện của một giai đoạn phát triển mới, từ khi con người cá nhân trở thành chủ đề trung tâm của văn học hiện đại, làm cho hình ảnh con người cá nhân trong văn học trở nên sâu sắc hơn và cũng nhờ đó mà sự phản ánh thế giới trong văn học giàu tính thẩm mỹ hơn, có sức lay động lớn hơn.
Bên cạnh đó, cũng phải nhìn nhận rằng, ấn tượng chung mà phái Shirakaba để lại trên văn đàn Nhật Bản thời Taisho không phải là một hình ảnh toàn vẹn về một thành tựu văn học đỉnh cao, hay là về những tài năng đột phá, những nhân cách xuất chúng. Tư tưởng nhân đạo mang màu sắc chủ nghĩa cá nhân, sự đề cao thái quá vấn đề phát triển cá tính hay khuynh hướng lý tưởng hóa về con người là những hạn chế ở các nhà văn Shirakaba, đã thể hiện trong khá rõ trong kết quả hoạt động xã hội của họ và cũng đã được nhiều nhà văn, nhà phê bình chỉ ra trong các công trình nghiên cứu. Những hạn chế này cũng là nhân tố làm cho sáng tác của các nhà văn Shirakaba quá thiên lệch về thế giới tâm lý cá nhân mà có phần thiếu không khí thực tiễn xã hội.
Như đã nói ở phần trên, phái Shirakaba được hiểu như một sự hợp tác đồng bộ và liền mạch của các nhà văn trong nhóm chỉ tồn tại trong khoảng thời gian 13 năm, khi hầu hết các thành viên trong nhóm đều tập trung vào hoạt động văn nghệ ở Tokyo, có điều kiện chung sức thực hiện tạp chí cùng tên, đồng thời tham gia viết bài cho một số báo và tạp chí văn nghệ khác. Sau khi rơi vào tình huống bắt buộc phải đình bản tạp chí Shirakaba do ảnh hưởng của trận động đất lớn ở vùng Kanto năm 1923, mỗi nhà văn trong nhóm lựa chọn một địa điểm khác nhau để sinh sống, viết văn, rồi dần dần xa rời nhau về tư tưởng, về kỹ thuật hay quan niệm sáng tác. Có nhà văn trải qua những thời kỳ xáo trộn tư tưởng do tác động của hoàn cảnh xã hội đương thời, thậm chí như Mushanokoji Saneatsu đã thay đổi từ quan điểm phản chiến sang chủ trương ủng hộ đường lối “Đại Đông Á”. Có nhà văn sau thời kỳ gắn bó với tạp chí Shirakaba đã thay đổi hẳn chủ đề và lối viết, và cuối cùng đã tạo dựng nên sự nghiệp văn học đồ sộ nhưng ít thấy biểu hiện phong cách đặc thù của nhóm Shirakaba. Nhưng nói chung những nhà văn Shirakaba đều tìm được vị trí xứng đáng trên diễn đàn văn nghệ đương thời, đều gây được ấn tượng với độc giả bằng phong cách cá nhân và đều là những nhà văn – nghệ sĩ đã hoạt động tích cực vì một giai đoạn quan trọng của nền văn học Nhật Bản. Phái Shirakaba quả thật đã tạo nên một hình ảnh đẹp và đầy sức sống trên văn đàn thời Taisho, đúng như hình ảnh của loài cây có tên gọi đã được các nhà văn trong nhóm lựa chọn khi đặt tên cho tạp chí – một cách để thể hiện phong cách riêng, không khí mới và ký thác những ước vọng đẹp về văn chương nghệ thuật của thời đại canh tân.


[1] Nishimura Shuko (2009), 西村修子『美術雑誌としての「白樺」にみる西洋美術認識』(Nhận thức về mỹ thuật phương Tây trong tạp chí Shirakaba, trong vai trò một tạp chí mỹ thuật), Journal of East Asian Studies, No.7, 2009.3, pp.137 – 153.
[2] Natsume Soseki 夏目漱石 (1994), 『夏目漱石全集』(Natsume Soseki toàn tập, quyển 10), 岩波書店, tr. 3.
[3] Natsume Soseki 夏目漱石 (1993), 『夏目漱石全集』(Natsume Soseki toàn tập, quyển 6), 岩波書店, tr. 101 - 102.

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2015

“NHẬT BẢN TAM CẢNH” – NHỮNG NẺO ĐƯỜNG VỀ VỚI THIÊN NHIÊN



Khái niệm “Nhật Bản tam cảnh” đến với tôi một cách rất tình cờ. Sau một lần đặt xe buýt đường dài của hãng xe Orion, tôi nhận được thông tin quảng cáo của hãng này qua thư điện tử. Hôm ấy tìm xong tài liệu ở thư viện thì còn vài chục phút nữa mới đến giờ hẹn gặp giáo sư. Thấy khu vực để máy tính dành cho bạn đọc đang có nhiều khoảng trống, tôi chợt nhớ mình cần lục lại email để tìm số điện thoại một người bạn nên sẵn tiện đến ngồi một chút để tra cứu linh tinh.
Vì không dùng máy để soạn thảo văn bản, và trong khi dùng máy cũng chẳng lưu trữ được thông tin để sử dụng cá nhân nên tôi không vội vã hay mải mê lang thang trên nhiều website như thường lệ. Đang lúc rỗi rãi, tôi bèn mở email quảng cáo ra xem. Nhìn thấy tuyến Tokyo – Sendai với cước phí thấp hơn nhiều so với sự hình dung của tôi về một chuyến đi lên vùng Đông Bắc, tôi thầm nghĩ “Hay mình tranh thủ mấy ngày lên chơi ở Sendai”. Trước đó, tôi chỉ biết loáng thoáng rằng Sendai là một thành phố lớn của vùng Tohoku, là một trong những nơi bị thiệt hại khá nhiều trong thảm họa động đất, sóng thần năm 2011. Nhưng để có một chuyến tham quan hữu ích thì cần tra cứu thêm một chút thông tin.
Mở ngẫu nhiên một trang cung cấp thông tin về du lịch, tôi ngớ ra khi nhìn thấy địa danh Matsushima – một cái tên rất quen và rất được đề cao trong văn học cổ điển Nhật Bản. Thì ra Matsushima là thắng cảnh nổi bật nhất ở nơi này. Tôi có cảm giác gần như tự hổ thẹn vì mình nhất thời không nhớ ra điều đó.
Đọc thông tin chi tiết hơn một chút, tôi được biết Matsushima là một nơi trong “Nhật Bản tam cảnh”, và không thể nào bỏ qua khái niệm mới gặp này. Tôi lại “lang thang” theo những đường dẫn mở ra rất dễ dàng trên màn hình máy tính, để được biết hai địa danh còn lại là Amanohashidate ở ngoại vi thành phố Kyoto và đảo Miyajima thuộc tỉnh Hiroshima. Mừng vì hai “cảnh” ấy thuộc về những trọng điểm trong “bản đồ du lịch” mà tôi đã phác họa cho những ngày sắp tới, tôi lại càng thích thú vì cái thư quảng cáo kia đã tạo điều kiện cho mình phát hiện “cảnh” thứ ba trong lúc còn khả năng thu xếp thời gian.
Thật ra thì tôi không quá lệ thuộc vào những danh hiệu hay danh mục đề cử, bầu chọn nào đó, đặc biệt là khi tìm đến với những giá trị phù hợp với tính cách của mình. Nhưng tôi biết mình có quá ít thời gian ở nơi này và không nhiều lắm thông tin về mọi mặt, nên cố gắng tận dụng tất cả những nguồn tin có giá trị tham khảo như một kẻ dẫn đường, rồi sau đó mới đi vào quá trình tìm hiểu và cân nhắc, trước khi quyết định và lên kế hoạch chi tiết để “tiêu xài” tiền bạc, thời gian. Với cách ấy, thông tin về “Nhật Bản tam cảnh” hay “Nhật Bản tam danh viên” đều đến với tôi một cách tình cờ và được tôi lựa chọn sau quá trình tra cứu (trừ Kenrokuen là nơi đã được cơ quan giao lưu văn hóa Nhật Bản lựa chọn và giới thiệu, trước khi tôi được biết đó là một “danh viên”).
Những thông tin đọc được trên internet cho tôi biết danh mục của “Nhật Bản tam cảnh” đã có sự thay đổi theo thời đại, và danh mục gần đây đề xuất nhiều “tân cảnh” rất đáng để tham quan. Dĩ nhiên mỗi cảnh đẹp thiên nhiên đối với tôi đều là một chân trời vẫy gọi, nhưng dù cho danh mục có thay đổi thế nào thì “sức nặng” của cái tên Matsushima đối với tôi vẫn không hề suy suyển. Tôi muốn được tận mắt nhìn cảnh vịnh biển có nhiều thông nơi ấy, để “thấm” được cảm giác làm cho Basho phải thốt lên trong một bài haiku độc đáo như một công án Thiền. Thế là tôi hăm hở lên đường trong một đêm vừa bước sang tháng chín, khi Tokyo vẫn oi ả bứt rứt trong những ngày hè dai dẳng còn sót lại cuối mùa.
Sendai đón tôi bằng gương mặt yên ả dịu dàng của buổi sáng đầu thu vùng Đông Bắc. Ấn tượng đầu tiên của tôi về nhà ga trung tâm của Sendai là sự rộng mở và náo nhiệt của cả một “khu phố” nằm chìm trong lòng đất, với lối đi thênh thang và dài tít tắp có những hàng cột sáng choang biển quảng cáo và luôn luôn rầm rập bước chân người. Nghe nói đây là nhà ga mới được tái thiết sau khi bị thiệt hại khá nặng trong đợt thiên tai xảy ra vào tháng 3 năm 2011. Không rõ mức độ thiệt hại như thế nào và công trình khôi phục của người địa phương đã vất vả, tốn kém ra sao, tôi chỉ có cảm giác rằng cảnh hoành tráng của ga Sendai tấp nập và hiện đại cứ như một nụ cười ngạo nghễ của xứ sở ngoan cường đã nhận lấy định mệnh phải sống cùng với thiên nhiên khắc nghiệt!
Những chuyến tàu địa phương ở đây cũng khiến tôi ngạc nhiên vì ghế ngồi có vẻ rất sang trọng, khác hẳn với tàu điện Tokyo chỉ có hai dãy ghế chạy dọc theo thành tàu gợi cảm giác của xe buýt nội đô, do phải đối ứng với lượng khách đi tàu quá đông vào giờ cao điểm. Với một ít thông tin tra cứu được, tôi “dò dẫm” hết lên tàu, xuống tàu rồi lại tìm xe buýt địa phương để tham quan một số nơi được giới thiệu trên các website du lịch.
Và tôi dành riêng một buổi chiều để tìm đến thắng cảnh Matsushima.
Đường sắt đi từ ga Sendai đến ga Matsushima mất hơn ba mươi phút, với khoảng một phần ba đoạn đường chạy dọc theo bờ biển, khiến tôi vừa thích thú nhìn phong cảnh đang mở ra trước mắt vừa hồi hộp nhìn lên biển báo xem đã đến ga mình cần xuống hay chưa.
Xuống tàu, tôi đi bộ một vòng cung ngắn trên bờ vịnh thì gặp bến du thuyền. Thế là cũng xếp hàng theo mọi người mua vé và lên thuyền ngoạn cảnh. Tôi vốn không có nhiều cảm xúc với biển khơi nhưng khi đứng trên du thuyền đợi giờ xuất phát, nhìn hải âu chao lượn từng đàn trên sóng nước, cứ đỗ xuống mạn thuyền rồi tung cánh bay lên, trong khoảnh khắc tôi cảm nhận được cả sự dữ dội mênh mông và nét thân thương, dịu dàng của biển. Và lần đầu tiên tự “đãi” mình cảm giác của một người đang vẫy chào bờ bến để “ra khơi”!
Trong năm mươi phút dạo chơi trên chuyến du thuyền, tôi đã được thoải mái thả hồn vào mênh mang sóng nước và tha hồ chụp ảnh những đảo thông muôn hình muôn vẻ cứ thay nhau hiện rõ dần trước mắt để rồi sau vài phút lại khuất dần vào màu xanh vô tận của vịnh biển bao la. Loa phát thanh trên du thuyền thuyết minh chi tiết về vẻ đẹp thiên nhiên và ý nghĩa du lịch của Matsushima, về hình dáng và nét đẹp đặc trưng của từng cụm đảo trên vịnh, về những tổn thất mà đợt thiên tai năm 2011 gây ra cho vịnh biển v.v... nhưng tôi không thể tập trung để lắng nghe tường tận vì mải mê ngắm cảnh đẹp bên ngoài ô cửa kính và liên tục xoay trở tìm góc độ hợp lý để ghi hình.
Năm mươi phút cứ tưởng là khá dài nhưng loáng cái thuyền đã quay về bến. Cũng vừa lúc mặt trời khuất vào mây nên mới hơn bốn giờ chiều mà không gian sẫm lại, mặt biển cũng mất đi màu xanh sáng mà tôi đã may mắn ghi được bằng máy ảnh trước đó không lâu. Xong chuyến du ngoạn qua các đảo nhưng khung cảnh thiên nhiên rộng mở ở nơi này cứ níu chân tôi lại. Vì cũng chẳng có gì phải vội vàng nên tôi quyết định đi tản bộ khắp xung quanh cho đến khi trời tối.
Nhờ cái quyết định ngẫu hứng kia mà tôi có cơ hội ngắm nhìn và ghi thêm một số hình ảnh đẹp. Tôi tình cờ phát hiện con dốc nhỏ dẫn lên thành Sendai trong lúc đi lang thang ở công viên chạy dọc theo bờ biển. Cũng là kiến trúc kiểu thành quách phổ biến thời lãnh chúa nhưng thành Sendai chỉ là một lâu đài nho nhỏ so với những tòa thành uy nghiêm, cao rộng và nổi bật về tính năng quân sự như thành Osaka ở Kansai hay thành Kumamoto ở Kyushu. Có lẽ vì dáng vẻ khiêm tốn như vậy nên mặc dù nằm ngay bên bờ vịnh Matsushima nhưng thành Sendai không phải là một điểm đến thu hút nhiều du khách. May mắn là lúc tôi vào mua vé tham quan thì có một du khách Nhật cũng mới bước vào. Một người đàn ông trung niên và tầm thước, không hẳn phong trần nhưng cũng toát ra cái vẻ đặc trưng của kiểu người trầm lặng thường đi du lịch “bụi” một mình. Hai người lặng lẽ nối tiếp nhau leo hết đoạn cầu thang này sang đoạn cầu thang khác, lặng lẽ xem những tấm ảnh và vật lưu niệm bày trong các gian phòng, rồi cuối cùng gặp nhau ở ban công chìa ra phía ngoài gian phòng chính của tầng cao nhất. Tuy chỉ là một đoạn hành lang hẹp nhưng quả là một vị trí lý tưởng để ghi hình, đặc biệt là hình toàn cảnh vịnh Matsushima nhìn từ trên cao xuống, đủ gần để nhìn thấy những đảo thông có hình dáng đẹp và đủ xa để ghi được tầm nhìn bao quát, để phủ lên bức hình chút khói sương bảng lảng của buổi chiều thu nhẹ và ngân như một nốt nhạc trầm. Nhờ có vị khách Nhật cùng đến tham quan thành Sendai hôm ấy mà tôi đã có được tấm ảnh lưu niệm ở góc ban công nhỏ hẹp mà lý tưởng như một đài vọng cảnh, với gió lùa trong tóc và những cụm thông của vịnh Matsushima thấp thoáng phía sau lưng...
Sau khi tạm biệt lâu đài nhỏ bé, tôi còn lang thang thêm một hồi lâu nữa quanh bờ vịnh, rồi lên cây cầu dài màu đỏ dẫn ra một hòn đảo có diện tích kha khá để tham quan. Thỉnh thoảng tôi lại gặp một nhóm du khách cũng đang đi dạo loanh quanh trên con đường mòn len lỏi dưới những gốc tùng cổ thụ. Vài nhóm học sinh người địa phương đang vui đùa trong những căn chòi hình lục giác – một kiểu bố trí chỗ ngồi dành cho những sinh hoạt dã ngoại, khiến tôi thầm ghen tỵ với những bạn trẻ người Nhật sinh trưởng ở nơi này. Khi dừng chân ở doi đất nhô ra biển là điểm cuối của một nhánh đường mòn, tôi tranh thủ bấm máy thêm vài lượt và nhận ra bóng hoàng hôn đã chuyển sang màu thẫm. Biết rằng đã đến thời điểm kết thúc của một chuyến lang thang trên vịnh suốt buổi chiều nhưng tôi không hề có cảm giác bất an khi một mình đứng trên doi đất vắng người và lộng gió, cũng như trên suốt đoạn đường không bóng người nhưng rậm rạp cỏ cây dẫn tôi trở lại chiếc cầu bắc qua bờ vịnh.
Sau cái buổi chiều lang thang ấy, tôi mới nhận ra, một cách rất chân thành, rằng ký ức của tôi về Matsushima không giống như ký ức về một thắng cảnh nổi bật, một vẻ đẹp độc đáo làm cho khách du sửng sốt, mà đúng hơn là ký ức về một vùng thiên nhiên phong phú, rộng mở nhưng lại rất thâm trầm. Tôi đã tìm đến Matsushima với tâm thế của một du khách đi tìm một tuyệt cảnh được nhiều người ngưỡng mộ, nhưng ở điểm đến thì Matsushima không còn là một khách thể hùng vĩ đối diện với con người tìm kiếm trong tôi. Matsushima trở thành một vòng tay đón tôi vào thế giới thiên nhiên thân thuộc dịu dàng và mênh mông bất tận. Con người tìm tòi, khám phá của cá nhân tôi không biết tự lúc nào đã trượt vào thế giới êm dịu bao la ấy, nên đã quan sát, cảm nhận mọi điều bằng cái cách của một sinh vật nhỏ bé chìm đắm giữa thiên nhiên, chứ không phải bằng đôi mắt của một người xem cảnh quan là một thứ khách thể để thẩm định và phán xét.
Điều thú vị là tâm thức ấy không phài chỉ là kinh nghiệm một lần của tôi với Matsushima. Đó là những trải nghiệm khó quên của tôi trong những cuộc du hành tìm đến bao nhiêu vùng thiên nhiên tươi đẹp, trong đó có “Nhật Bản tam cảnh” và nhiều danh thắng trên khắp mọi miền đã từng cuốn hút bước chân tôi.
Chuyến đi đến Amanohashidate từ ga Kyoto, và sau đó là chuyến ra đảo Miyajima từ ga Hiroshima, cũng là kiểu trải nghiệm như vậy.
Amanohashidate là tên một thắng cảnh nổi tiếng ở vịnh Miyazu thuộc Maizuru – một thành phố phụ cận Kyoto. Từ ga Kyoto đến vịnh Miyazu mất khoảng hai tiếng đồng hồ, và du khách có thể lựa chọn phương tiện di chuyển là tàu hỏa hay xe buýt.
Với bản tính “tham lam” muốn biết nhiều cung đường khác nhau trong những chuyến du hành, tôi đã chọn cách... sử dụng cả hai phương tiện. Đi bằng xe buýt và về bằng tàu hỏa. Chỗ ngồi trên xe buýt thì không thoải mái bằng chỗ ngồi trên một toa tàu rộng nhưng tuyến đường xe buýt thường linh hoạt ngoằn ngoèo, nên ngồi trên xe cũng dễ được thưởng thức nhiều bức tranh phong cảnh khác nhau.
Nếu như ký ức của tôi về buổi chiều ở Matsushima là một bức tranh tương đối tĩnh với hoạt động chủ yếu là nhìn ngắm, thì kỷ niệm về chuyến tham quan Amanohashidate lại là một đoạn phim, trong đó khung cảnh được quan sát liên tục thay hình đổi dạng do sự thay đổi vị trí của người quan sát. Du thuyền ở Matsushima đi theo một tuyến đường khép kín, nên cảm giác của tôi khi ấy là mình vẫn chỉ đang loanh quanh một chỗ để ngắm nhìn. Còn du thuyền ở Amanohashidate thì lại đưa tôi đi dọc theo hòn đảo kỳ lạ như một “chiếc cầu thần” vắt qua vịnh biển. Tôi có điểm dừng chân hẳn hoi để tránh rét tạm thời, thậm chí có thể đi dạo quanh khu phố, tham quan các đền chùa gần đấy nếu thích thú và có đủ thời gian. Nhưng khi ấy ngoài trời đang gió mạnh và mưa bay lất phất. Sóng biển xô liên tục và phủ bọt trắng xóa lên chỗ cầu tàu, khiến cho các nhân viên của dịch vụ du thuyền vừa đón khách lên bờ đã vội vã đưa khách vào gian phòng dành để nghỉ chân và luôn miệng cảnh báo, ngăn cản những du khách trẻ tuổi muốn nán lại chụp ảnh gần mép nước. Tôi không muốn làm phiền những người đầy trách nhiệm với nghề như vậy nên ngoan ngoãn chui vào phòng chờ tìm lấy một chỗ ngồi dễ chịu, nhân tiện tìm mua một cốc đồ uống nóng ở máy bán hàng tự động ngay gần đó, rồi nhìn qua ô cửa kính ngắm cảnh biển bên ngoài. Nhưng ngồi được một lúc thì con người quan sát trong tôi lại bắt đầu cựa quậy. Tôi nhìn theo các bạn trẻ cứ thường xuyên ra vào qua cánh cửa nhỏ cuối gian phòng, tự nhủ mình cũng nên thử không khí bên ngoài một chút.
Bên ngoài trạm dừng chân của dịch vụ du thuyền là công viên chạy dọc theo bờ biển. Tôi khám phá ra rằng mình có thể nhìn bao quát cảnh vịnh để ghi hình thoải mái mà không phải đến chỗ cầu tàu, chỉ cần đi dọc theo công viên một quãng cho đến khi tầm nhìn không còn vướng những chiếc du thuyền đang cập bến. Giữa công viên và bãi biển có một bức tường chắn sóng nên các nhân viên dịch vụ không cần phải nhắc nhở hành khách đi dạo ở quãng này, và bức tường không quá cao để cản trở du khách cần chụp ảnh. Điều đáng tiếc duy nhất là thời tiết lúc ấy đang biến động bất thường. Trời âm u nên biển cũng thẫm màu và khật khừ cuộn sóng. Gió lồng lộng thổi còn mưa thì lúc tạnh lúc rơi. Tôi loanh quanh một lúc, chụp được vài tấm ảnh thì lại phải quay về gian phòng đợi để tránh mưa, sưởi ấm. May mắn là sau mấy lần tôi “nhấp nhổm” kiểu ấy thì mưa nhẹ hạt hẳn đi, màu mây xám nhạt dần và mặt trời sắp lặn bỗng tạo nên một vầng sáng rực hồng rất đẹp phía chân mây. Tôi sung sướng ghi hình thắng cảnh lúc hoàng hôn mà cứ cảm giác như mình đang được nhận một ân huệ thiêng liêng từ bàn tay vô hình của thiên nhiên vĩ đại, ngỡ như có một vị thần nào đó vì thương hại cho con người quan sát trong tôi mà vén tạm vầng mây cho tôi được ngắm nhìn vịnh biển hoàng hôn trong chốc lát!
Cảm giác có vẻ “thần bí” ấy còn quay lại với tôi nhiều lần nữa trong những chuyến du hành. Nhưng đặc biệt để lại trong tôi ấn tượng sâu đậm nhất là lần tham quan hồ Biwa, cũng vào một buổi chiều trời thoắt mưa thoắt tạnh, và lần tôi ngắm vịnh Miyajima từ chuyến phà đưa khách du ra đảo.
Về sau, có lần nhân nói chuyện du lịch và những thắng cảnh ở nơi này nơi khác, một đồng nghiệp người Nhật hỏi tôi thích nhất cảnh đẹp nào ở “Nhật Bản tam cảnh” mà tôi đã tham quan. Đây quả là một câu hỏi khó trả lời, vì cứ sau mỗi cuộc du hành thì mỗi điểm đến đều trở thành một mảng ký ức đẹp trong tôi, với những hình ảnh gắn liền với đặc trưng cảnh quan khó mà so sánh theo kiểu hơn thua, cao thấp. Nhưng sau một hồi lục lọi trong ký ức, tôi nhận ra hình ảnh có vẻ rạng rỡ nhất là cảnh vịnh Miyajima lúc chiều tà. Thành thật chia sẻ cùng đồng nghiệp, tôi chỉ nghĩ rằng mình đang trình bày một kinh nghiệm rất cá biệt và rất chủ quan, không ngờ lại nhận được sự tán thưởng nồng nhiệt vì đồng cảm! Phải chăng điều đó cũng là một món quà dễ chịu dành cho những ai đã lặn lội vất vả qua nhiều cuộc du hành?
Nói Miyajima đẹp hơn Matsushima hay Amanohashidate thì không hẳn đúng. Chỉ là trong ký ức của tôi thì cảnh trời chiều ở Miyajima lung linh hơn với quầng mây trên cao và mặt nước dưới biển phản chiếu ánh mặt trời rực rỡ. Khoảnh khắc ấy tôi lại đang di chuyển qua vịnh biển trên một chuyến phà. Ấn tượng về cảnh quan trong tôi luôn được tô đậm thêm nhờ cảm giác thích thú khi “xê dịch”. Theo một cách nào đó, có thể hình dung rằng trong kho ký ức của tôi về “Nhật Bản tam cảnh” thì những hình ảnh về Miyajima được ghi lại nhiều nhất trong tư thế “động” và lưu giữ được khoảnh khắc lung linh nhất của một buổi hoàng hôn trên vịnh biển. Ấn tượng của tôi về Miyajima “đậm” hơn hai trường hợp còn lại chính là vì khoảnh khắc này chăng?
Nói “đậm” hơn toàn bộ cũng không chính xác. Chỉ là sự ngưng đọng tự nhiên của ký ức mà thôi. Trước khi tìm đến thắng cảnh này, mỗi lần nghe nhắc đến địa danh Miyajima hoặc Itsukushima là trong đầu tôi lại hiện lên bức ảnh chụp cổng “đền nổi” Itsukushima đỏ rực, nhưng sau chuyến tham quan lần ấy thì cảnh hoàng hôn trên mặt biển đã thay thế cho hình ảnh quảng cáo truyền thống đã trở nên quen thuộc như một biểu tượng về thắng cảnh của Hiroshima. Và bao giờ cảnh hoàng hôn rực rỡ lung linh ấy cũng dừng lại trong đầu tôi một lúc, rồi cuốn phim hồi ức mới chầm chậm chuyển sang cảnh công viên trên đảo với những đôi mắt nai ngơ ngác hiền lành, rồi cuối cùng mới đến hình ảnh ngôi “đền nổi” bề thế nghiêm trang đang nhìn ra mênh mông sóng nước...
Cho nên, trong ký ức của tôi thì “Nhật Bản tam cảnh” không phải là những bức tranh “tĩnh vật” gây chấn động thị giác người xem, mà là những nẻo đường đưa khách du tìm về với những vùng thiên nhiên đẹp trong vẻ thâm trầm, nên thơ, trong trẻo. Nói là “những nẻo đường” bởi đường đi quan trọng hơn điểm đến. Điểm đến chỉ trình hiện cảnh quan còn đường đi chở theo bao mong chờ, luyến lưu, hoài niệm v.v... Ở điểm đến khách du chỉ là người quan sát, còn trên đường đi thì, vẫn người khách ấy, có khi vừa quan sát vừa tìm kiếm, hay vừa quan sát vừa mơ mộng, nhớ nhung.
Trên đất Nhật, tôi đã thực hiện nhiều chuyến đi dài và tốn kém chỉ vì một điểm đến hấp dẫn, vì chút lòng mê chấp của một kẻ vô minh, nhưng ký ức của tôi về cuộc hành trình ấy bao giờ cũng đẹp nhất, sáng rõ nhất ở quãng đường mà tôi thả hồn theo đam mê dịch chuyển. Một thứ kết quả ngoài mong đợi nhưng lại rất đáng yêu. Như chuyến đi thăm hồ Towada mang lại cho tôi những thước phim ký ức tuyệt đẹp về núi rừng ở miền Đông Bắc. Chuyến đi tìm núi lửa Aso khiến tôi muốn tan ra trên thảo nguyên mùa đông thăm thẳm một sắc vàng êm dịu. Hay cuộc hành trình đến Nikko, qua đoạn đường quanh co bên sườn núi cháy rực những lá vàng lá đỏ, đã giúp tôi thấu hiểu cảm xúc của các thi nhân xứ Phù Tang muốn thông qua cái chết để hóa thân vào thiên nhiên mênh mông bất tuyệt v.v...
Bao nhiêu “cảnh” là bấy nhiêu đểm đến. Còn những nẻo đường du hành thì vẫn trải ra bất tận đón bàn chân du khách từ ngàn xưa cho đến ngàn sau!